Rầy nâu hại lúa và biện pháp phòng trừ

Tên khoa học: Nilaparvata lugens Stal

Họ Rầy Thân (Delphacidae), Bộ Cánh Đều (Homoptera)

1. Phân bố rầy nâu hại lúa

- Rầy nâu xuất hiện ở tất cả các nước trồng lúa, nhất là các nước ở đồng bằng nhiệt đới Á châu như Ấn Độ, Bangladesh, Đài Loan, đảo Solomon, Indonesia, Fiji, Malaysia, Nhật, Phillipines, Thái Lan, Sri Lanka, Tân Guinea, Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam,...

2. Ký chủ gây hại của rầy nâu

- Ngoài lúa rầy nâu còn có thể sống trên lúa hoang, cỏ Leersia Japonica, cỏ gấu, cỏ lồng vực cũng đôi khi bị rầy nâu tấn công nhưng các quần thể rầy nâu này không phát triển được trên cây lúa.

3. Đặc điểm hình thái và sinh học rầy nâu hại lúa

- Rầy nâu có cơ thể màu nâu vàng, đỉnh đầu nhô ra phía trước. Rầy nâu rất nhỏ, con trưởng thành (thành trùng) chỉ to bằng hạt gạo, màu nâu.

- Phần gốc râu có 2 đốt nở to, đốt roi râu dài và nhỏ. Cánh trong suốt, giữa cạnh sau của mỗi cánh trước có một đốm đen, khi hai cánh xếp lại hai đốm này chồng lên nhau tạo thành một đốm đen to trên lưng.

rầy nâu hại lúa và biện pháp phòng trừ

- Thành trùng của rầy nâu có 2 dạng:

+ Cánh dài che phủ cả thân và chủ yếu dùng để bay đi tìm thức ăn.

+ Cánh ngắn phủ đến đốt thứ 6 của thân mình, dạng cánh này chỉ phát sinh khi thức ăn đầy đủ, thời tiết thích hợp, có khả năng đẻ trứng rất cao.

Chúng sống quanh gốc lúa ngay phần bẹ lá, phía trên mặt nước. Rầy nâu sinh sản và phát triển rất nhanh.

- Đời sống trung bình của thành trùng Rầy Nâu khoảng từ 10 – 20 ngày, trong thời gian đó một rầy cái cánh dài đẻ khoảng 100 trứng và rầy cái cánh ngắn đẻ từ 300 – 400 trứng. Nếu điều kiện thích hợp 1 rầy cái có thể đẻ đến cả ngàn cái trứng.

- Rầy nâu đẻ trứng thành từng hàng vào bên trong bẹ của cây lúa. Mỗi hàng có khoảng từ 8 – 30 cái. Trứng rầy nâu có hình hạt gạo, dài từ 0,3 – 0,4mm, mới đẻ trừng màu trắng trong, sắp nở có màu vàng, phía trên đầu trứng có bộ phân che gọi là nắp trứng. Thời gian ủ trứng từ 5 – 14 ngày.

- Ấu trùng của rầy nâu hay còn gọi là rầy cám, khi mới nở rất nhỏ, màu trắng sữa, càng lớn rầy càng chuyển thành màu nâu nhạt. Ấu trùng Rầy Nâu tuổi lớn rất giống thành trùng cánh ngắn nhưng cánh ngắn hơn và đục. Trong khi cánh của thành trùng cánh ngắn thì trong suốt với các gân màu đậm. Ấu trùng rầy nâu có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 14 – 20 ngày.

- Rầy con phải trải qua 5 lần lột xác để trở thành rầy trưởng thành.

rầy nâu hại lúa và biện pháp phòng trừ

- Rầy nâu có thể xuất hiện vào bất cứ giai đoạn sinh trưởng nào của cây lúa. Nếu gặp điều kiện thuận lợi, thức ăn đầy đủ thì từ lúc trứng nở đến khi trưởng thành chỉ mất khoảng 15-20 ngày. Do đó, trong 1 vụ lúa 3 tháng, có thể có 3 lứa rầy nối tiếp nhau, lứa sau nhiều hơn lứa trước. Mật độ rầy được tích lũy ngày càng cao, đến lúc có thể gây hại cho ruộng lúa. Có 2 nhóm rầy nâu giống nhau về hình dạng và tập quán sinh sống, chỉ khác nhau về mặt kích thước. Rầy nâu nhỏ (Laodelphax striatellus) có kích thước nhỏ hơn và màu sắc đen hơn nhóm rầy nâu thường gặp.

4. Tập quán sinh sống và cách gây hại của rầy nâu

- Sau khi vũ hóa 3 – 5 ngày, thành trùng cái bắt đầu đẻ trứng bằng cách rạch bẹ lá hoặc gân chính của phiến lá, gần cổ lá, khi mật độ cao, đẻ vào bên trong mô thành từng hàng.

- Khoảng 3 ngày sau, các vết đẻ trên bẹ lá có màu nâu do nấm bệnh xâm nhập vào, các vết này dài từ 8 – 10mm chạy dọc theo bẹ lá.

- Rầy cái tập chung đẻ trứng ở gốc cây lúa, cách mặt nước từ 10 – 15cm. Rầy trưởng thành cánh dài bị thu hút nhiều bởi ánh sáng đèn và vào đèn nhiều lúc trăng tròn, bay vào đèn nhiều từ 8 – 11h đêm.

- Cả thành trùng và ấu trùng rầy nâu đều thích sống dưới gốc cây lúa và có tập quán bò quanh thân cây lúa hoặc nhảy xuống nước nhảy lên tán lá để lẩn tránh khi bị khuấy động. Rầy nâu thích tấn công cây lúa còn nhỏ, nhưng nếu mật độ cao có thể gây hại mọi giai đoạn tăng trưởng của cây lúa:

+ Lúc đẻ nhánh: Rầy chích hút nơi bẹ tạo thành những sọc màu nâu đậm dọc theo thân do nấm và vi khuẩn tấn công tiếp theo.

+ Lúa từ làm đòng đến trỗ: Rầy thường tập chung chích hút ở cuống đòng non.

+ Lúa chín: Rầy tập trung lên thân ở phần non mềm.

Lưu ý: Cả thành trùng và ấu trùng rầu nâu đều chích hút cây lúa bằng cách cho vòi chích hút vào bó libe của mô hút nhựa. Trong khi chích hút rầy tiết nước bọt phân hủy mô cây, tạo thành một bao chung quanh vòi chích hút, cản trở sự di chuyển nhựa nguyên và nước lên phần trên của cây lúa làm cho cây lúa bị khô héo, gây hiện tượng “ Cháy Rầy”.

- Ngoài ảnh hưởng gây hại trực tiếp như trên, Rầy nâu còn gây hại gián tiếp cho cây lúa như:

+ Mô cây tại các vết chích hút và đẻ trứng của rầy trên thân cây lúa bị hư do sự xâm nhập của một số loài nấm, vi khuẩn. .

+ Phân rầy nâu tiết ra có chất đường thu hút nấm đen tới đóng quanh gốc lúa, cản trở quang hợp, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa.

+ Rầy nâu thường truyền các bệnh lúa cỏ, lùn xoắn lá cho cây lúa, nghiêm trọng nhất là bệnh lùn xoắn lá. Triệu chứng để nhận diện bệnh này là bụi lúa vẫn giữ màu xanh dù đã đến lúc thu hoạch, chóp lá xoắn lại, lá rách dọc theo bìa, cây đâm thêm chồi ở các đốt phía trên. Nhìn chung, cả bụi lúa lùn hẳn và lá có màu xanh đậm. Mức độ lùn của cây lúa còn tùy thuộc vào thời gian lúa bị nhiễm bệnh:

* Nếu cây lúa bị nhiễm bệnh sớm, trong tháng đầu sau khi sạ, bụi lúa lùn hẳn và thất thu hoàn toàn.

* Nếu cây lúa bị nhiễm bệnh muộn hơn, bụi lúa bị lùn ít và có thể trổ bông nhưng rất ít hoặc đòng lúa không thoát ra được, hạt bị lép nhiều, năng suất thất thu khoảng 70%.

* Nếu ruộng lúa bị nhiễm bệnh muộn hơn nữa, từ khi lúa tròn mình trở về sau, bụi lúa sẽ không lùn và có thể trỗ bông nhưng bông lúa bị lép nhiều và có thể thất thu đến 30%.

5. Các yếu tố ảnh hưởng đến mật độ số của rầy nâu

5.1. Thức ăn ảnh hưởng đến mật độ số của rầy nâu

- Đây là yếu tố quan trọng, đóng vai trò quyết định đối với việc tăng hoặc giảm mật độ số rầy nâu trên đồng ruộng.

+ Giống lúa: Các giống ngắn ngày, đáp ứng với phân đạm nhiều, lá xanh, thân mềm, năng suất cao nhưng không kháng được rầy cao được trồng nhiều là nguồn tức ăn ưu thích của rầy.

+ Mùa vụ: Lúa cao sản được trồng liên tục 2 – 3 vụ trong 1 năm nên trên đồng ruộng luôn có thức ăn thích hợp cho rầy nâu.

+ Các điều kiện khác:

Phân bón: Việc bón nhiều phân, nhất là đạm, làm cho cây lúa xanh tốt, nhiều dưỡng chất, thân mềm, dễ thu hút rầy tới sinh sống và phát triển mật độ.

Thủy lợi: Hệ thống thủy lợi càng phát triển và hoàn chỉnh giúp cây lúa phát triển tốt, đây cũng là điều kiện thuận lợi cho rầy tới sinh sống và phát triển mật độ.

5.2. Thời tiết ảnh hưởng đến mật độ số của rầy nâu

- Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp để rầy nâu phát triển là 25 – 30 độ C.

- Ẩm độ và lượng mưa: Mưa lớn và liên tục trong nhiều ngày sẽ làm rầy trưởng thành bị suy yếu, rầy cám bị rửa trôi, đồng thời rầy cũng dễ bị nấm bệnh tấn công, trong khi mưa nhỏ hoặc mưa nắng xen kẽ, trời âm u rất thích hợp để rầy phát triển mật độ. Ẩm độ thích hợp cho rầy phát triển là 80 – 86%.

- Gió: Rầy nâu có khả năng di chuyển xa và nếu có gió rầy bốc lên theo gió và bị cuốn đi có thể đến những nơi rất xa.

5.3. Thiên địch ảnh hưởng đến mật độ của rầy nâu

Có nhiều loài côn trùng ký sinh, ăn thịt và nấm bệnh gây hại mọi giai đoạn tăng trưởng của rầy nâu. Các loài thiên địch quan trọng của rầy nâu là:

- Bọ rùa: Có nhiều loài bọ rùa tấn công rầy nâu. Mỗi ngày 1 con bọ rùa (cả thành trùng lẫn ấu trùng) có thể ăn từ 5 – 10 con rầy nâu (cả ấu trùng và thành trùng).

- Kiến Ba Khoang: Có 2 loài kiến  khoang thường gặp trên ruộng lúa Paederus Fuscipes thuộc họ Staphylinidae và Ophionea india thuộc họ Carabidae. Cả ấu trùng và thành trùng các loài kiến Ba Khoang kể trên đều ăn ấu trùng và thành trùng rầy nâu. Mỗi con kiến 3 khoang có thể ăn từ 3 – 5 Rầy Nâu mỗi ngày.

- Bọ xít nước: Có 2 loài thường xuất hiện trên ruộng lúa là: Microvelia atrolineata, Mesovelia sp. Cả 2 loài trên thuộc bộ Cánh Nửa Cứng. Ấu trùng và thành trùng các loài bọ xít nước đều chích hút chất dịch bên trong cơ thể ấu trùng và thành trùng rầy nâu. Mỗi bọ xít có thể tiêu diệt từ 4 – 7 ấu trùng và thành trùng rầy nâu mỗi ngày.

- Bọ xít mù xanh: Thành trùng bọ xít mù xanh có thề săn bắt cả ấu trùng và thành trùng rầy nâu để ăn. Mỗi ngày bọ xít mù xanh có thể ký sinh từ 7 – 10 trứng rầy hoặc từ 1 – 5 con rầy.

6. Biện pháp phòng trừ rầy nâu hại lúa

- Vệ sinh đồng ruộng:

+ Phát sạch gốc rạ, vùi chôn lúa còn sót lại và đốt đồng ngay sau khi thu hoạch, không để lúa chét phát triển.

+ Để ngừa bệnh xoắn lá, cần nhổ bỏ các bụi lúa bị bệnh lùn xoắn lá để không còn nguồn bệnh trên đồng ruộng.

- Giống kháng:

Nên trồng nhiều giống lúa có tính kháng trung bình trên đồng ruộng cùng một lúc để tránh tình trạng rầy quen thức ăn và để tránh áp lực của rầy khi rầy bùng phát.

- Thời vụ:

+ Sạ lúa, gieo mạ, cấy lúa đúng thời vụ, mật độ gọn, tránh mùa vụ gối nhau làm lúa hiện diện liên tục trên đồng ruộng.

+ Nên có thời gian để đất trống để cắt đứt nguồn thức ăn của Rầy Nâu.

- Phân bón:

+ Chọn những dòng phân bón chuyên dùng cho lúa thích hợp. Cung cấp đầy đủ, cân đối dinh dưỡng cần thiết cho từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của lúa.

+ Bón đúng lúc và cân đối giữa các loại phân đạm, lân, kali. Tránh bón nhiều làm dư đạm, nhất là ở giai đoạn cuối của cây lúa.

Quy trình gieo trồng và bón phân cho lúa thích hợp.

- Biện pháp sinh học:

+ Cho vịt con từ 4 – 5 tuần tuổi vào ruộng lúa với mật độ khoảng 100 – 150 con/ha.

+ Thả cá như rô phi, mè vinh,.. vào ruộng lúa.

- Dùng dầu Gasoil:

Cho dầu lên mặt nước ruộng xong dùng cây quơ lên lá lúa, rầy sẽ rơi xuống nước sẽ dính dầu bị chết. Lượng dầu sử dụng là 5 – 7 lít/ha.

- Bẫy đèn:

Khi có Rầy nâu cánh dài xuất hiện nên làm bẫy đèn để thu hút rầy tới. Hàng đêm có thể đốt đèn từ 7 – 10h tối. Bẫy đèn nên làm đồng loạt.

Bạn đọc có thể tham khảo thêm: Biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ trên lúa 

NVKHNN- Trịnh Thị Khương

Bình luận