Quy trình kỹ thuật thâm canh ngô đạt hiệu quả cao

Cây ngô được xem là cây lương thực chủ đạo, sau cây lúa. Trước đây người dân thường trồng chủ yếu là các giống ngô địa phương năng suất thấp. Những năm gần đây nhiều giống ngô lai mới đã được trồng khảo nghiệm nhiều khu vực cho năng suất cao, chất lượng tốt và có khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi. Mặc dù năng suất cũng như chất lượng ngô đã được tăng lên đáng kể, nhưng hiện nay chúng ta vẫn chưa khai thác hết được tiềm năng của giống. Để giúp các hộ nông dân nắm được kỹ thuật canh tác sử dụng giống mới, bón phân hiệu quả cho ngô, nhằm khai thác tối đa tiềm năng giống. Giúp tăng hiệu quả kinh tế cho bà con nông dân. Chúng tôi xin giới thiệu cho bà con “Kỹ thuật trồng thâm canh cây ngô hiệu quả”, đây là kỹ thuật được áp dụng chung cho tất cả các giống ngô. Trước khi đi vào quy trình kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc ngô cụ thể. Xin mời bà con cùng tìm hiểu một số vùng trồng ngô chính ở nước ta hiện nay:

1. Một số vùng trồng ngô chính ở nước ta hiện nay

1.1. Vùng Đông Nam Bộ

Đây là vùng trồng ngô hàng hóa có tiềm năng nhất ở nước ta.

+ Đất trồng ngô: Chủ yếu là đất bazan, đất xám và phù xa sông. Đất Bazan có hàm lượng mùn và các chất dinh dưỡng cao, tơi xốp, ít chua rất thuận lợi cho việc trồng ngô. Đất xám có nguồn gốc từ đất phù sa cổ, nhẹ, thoát nước tốt, tuy hàm lượng mùn và dinh dưỡng không cao nhưng có độ ẩm cây héo rất thấp nên đây cũng là loại đất rất thích hợp cho trồng ngô nhưng cần phải bón phân với lượng cao hơn so với trên đất Bazan.

+ Khí hậu thuận lợi cho việc canh tác ngô: Lượng mưa hằng năm 500 – 2000 mm/năm, nhiệt độ trung bình 23 – 24ºC, số giờ nắng nhiều. Vùng này thường trồng 2 vụ ngô liên tiếp nhau từ cuối tháng 4 đến tháng 11, ở những địa phương đảm bảo lượng nước tưới thì vẫn có thể trồng thêm 1 vụ từ tháng 12  đến tháng 3.

1.2. Vùng ngô đồng bằng sống Cửu Long

- Ngô được trồng trên đất phù sa được bồi đắp hàng năm dọc theo các con sống lớn, đất tốt, độ màu mỡ cao rất thuận lợi cho ngô.

- Nhiệt độ bình quân luôn cao hơn 20ºC, ánh sáng dồi dào, lượng mưa thấp nhưng vẫn có thể trồng ngô đạt năng suất cao nếu chủ động được nguồn nước tưới bổ sung.

- Những năm gần đây để tránh độc canh lúa, cây ngô lai đã được đưa vào vùng này, đạt hiệu quả kinh tế rất cao nên diện tích ngô đã phát triển nhanh chóng.

1.3. Vùng ngô Tây Nguyên

- Ngô được trồng chủ yếu trên đất phù sa thềm sông suối, thung lũng và trên nương rẫy có độ dốc từ 3 – 10 độ. Loại đất chủ yếu là đất bazan, đất phù sa nên độ màu mỡ cao rất thuận lợi cho ngô phát triển.

- Lượng mưa bình quân 1500mm, nhiệt độ trung bình trên 20 ºC. Tuy nhiên có sự khác biệt rõ rệt giữa mùa mưa và mùa khô, nên ở vùng này nhìn chung thường trồng 1 vụ ngô với những giống dài ngày năng suất cao vào mùa mưa.

1.4. Vùng ngô duyên hải miền Trung

- Đất trồng ngô chủ yếu là đất phù sa được bồi hằng năm dọc theo các con sông và đất phù sa không được bồi hàng năm chuyên màu hoặc đất 2 lúa + 1 màu.

- Hàng năm có 2 vụ chính là đông xuân gieo tháng 12 thu hoạch cuối tháng 3 đầu tháng 4 và vụ hè thu gieo đầu tháng 4 thu hoạch cuối tháng 7 đầu tháng 8. Vụ đông xuân khi gieo đầu vụ thường hay gặp mưa. Vụ hè thu có thể bị ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng.

1.5. Vùng ngô khu 4 cũ

- Đất trồng ngô chủ yếu là đất phù sa được bồi đắp hàng năm dọc các sông La, sông Lam, sông Mã,...và đất phù sa không được bồi hằng năm chuyên màu hoặc đất luân canh lúa màu.

- Vùng này khí hậu thời tiết thường diễn biến phức tạp, hay bị bão lụt và chịu ảnh hưởng của gió lào và gió mùa Đông Bắc,...Hằng năm ngô có 2 vụ chính là: Vụ Đông Xuân thường bắt đầu khi hết lũ lụt (cuối tháng 9 – giữa tháng 10) trồng đến khoảng tháng 2 năm sau. Vụ ngô Xuân – hè từ đầu tháng 3 và kết thúc vào khoảng tháng 6. Những năm gần đây ở một số tỉnh như Thanh Hóa, Nghệ An còn có vụ ngô Đông trên đất 2 lúa, gieo vào tháng 9 – 10 thu hoạch tháng 12 – tháng 1 năm sau.

1.6. Vùng ngô châu thổ Sông Hồng

Là vùng ngô lớn nhất ở phía Bắc.

- Đất bãi có độ màu mỡ cao, nhưng không chủ động tưới tiêu, đất trong đồng trồng lúa có độ màu mỡ khá, chủ động tưới tiêu nhưng độ tơi xốp kém.

- Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, chế độ mưa lũ và cơ cấu cây trồng nên vùng này có các vụ ngô: Ngô Đông Xuân, ngô Xuân, ngô Hè Thu, ngô Thu Đông và ngô Đông trong đó ngô Đông Xuân và ngô Đông có diện tích lớn nhất.

- Vụ ngô Thu Đông và Đông Xuân chủ yếu trồng ở các vùng bãi sông hoặc đất chuyên màu. Khó khăn chính của vụ ngô này là thường bị hạn và rét đậm làm kéo dài thời gian sinh trưởng của ngô, ở giai đoạn thu hoạch thường có mưa.

- Vụ ngô Đông trên đất trên đất 2 vụ lúa: Khó khăn chính là đầu vụ hay bị mưa, làm chậm thời vụ, giữa và cuối vụ thường hạn và rét, khi thu hoạch gặp mưa phùn, nhất là gieo vào thời vụ muộn.

1.7. Vùng ngô Tây Bắc

- Đất trồng ngô chủ yếu là đất: thung lũng đá vôi, đất phù xa thềm sông suối.

- Khí hậu 2 mùa rõ rệt, mùa mưa khí hậu ôn hòa dễ ẩm, mưa khô gắn liền với rét nhiều ngày dưới 10ºC, có khi xuống 0ºC băng giá và sương muối, rất ít mưa.

1.8. Vùng ngô Đông Bắc

- Đất trồng ngô chủ yếu là đất phát triển trên các sản phẩm của đá vôi và sa phiến thạch, đất phù sa dọc theo các sông suối,...nhìn chung hàm lượng dinh dưỡng cao – thuận lợi cho ngô.

- Khó khăn lớn nhất hạn chế sản xuất ngô trong vùng là nhiệt độ. Mùa đông lạnh, nhiều nơi có băng giá, sương muối thậm chí có tuyết.

II, Kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc ngô hiệu quả

Thời gian sinh trưởng của ngô thường kéo dài từ 105 – 130 ngày, tính từ lúc nảy mầm cho đến khi chín, phụ thuộc vào giống và điều kiện chăm sóc. Trong thời kỳ này cây ngô hoàn thành được 2 giai đoạn sinh trưởng kế tiếp nhau: Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng và giai đoạn sinh trưởng sinh thực.

Khả năng cho năng suất ngô được xác định chủ yếu là trong thời kỳ trước khi trỗ cờ. Đánh giá năng suất, chủ yếu dựa vào lượng tinh bột có trong hạt ngô và được xác định vào thời kỳ chín.

giai đoạn sinh trưởng, phát triển ngô

1. Chọn giống

Để chọn giống ngô phù hợp trong từng mùa vụ, phù hợp với cơ cấu cây trồng, né tránh những bất lợi, tận dụng tối đa những thuận lợi về đất đai, nhiệt độ, ánh sáng,...chúng ta cần nắm vững thời gian sinh trưởng của các nhóm giống ngô ở từng vùng sinh thái chính như sau:

Nhóm       Vùng

Các tỉnh phía Bắc

Tây Nguyên

Nam Bộ, Duyên hải miền Trung

Nhóm chín sớm

Dưới 105 ngày

Dưới 95 ngày

Dưới 90 ngày

Nhóm trung ngày

105 – 120 ngày

Từ 95 – 105 ngày

Từ 90 – 100 ngày

Nhóm chín muộn

Trên 120 ngày

Trân 106 ngày

Trên 100 ngày

1.1.  Đảm bảo thời vụ gieo tốt nhất của từng vùng:

- Các tỉnh miền núi phía Bắc: Thường chỉ có 1 vụ ngô Xuân, thường gieo từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 5, tùy điều kiện cụ thể của từng nơi.

+ Ngô Đông Xuân: Chủ yếu trồng ở vùng bãi và thường trồng dài ngày, gieo 15/11 – 15/12.

+ Ngô Xuân: Gieo từ 15/1 – 15/2, đối với giống chín sớm và chín trung bình có thể gieo muộn hơn vào cuối tháng 2.

+ Ngô hè thu: Gieo đầu tháng 6 đến giữa tháng 7.

+ Ngô thu đông: Thường gieo cuối tháng 8 ở cấc bãi sông sau khi nước rút, hoặc đất trong đồng sau khi thu hoạch lúa hè thu.

+ Ngô Đông: Làm trên đất 2 vụ lúa, gieo trong tháng 9, có thể kéo dài đến đầu tháng 10 so với giống chín sớm.

- Các tỉnh khu 4 cũ:

+ Ngô Đông Xuân: Gieo cuối tháng 9 đến đầu và giữa tháng 10.

+ Ngô Xuân – Hè: Gieo vào đầu tháng 3.

+ Ngô Đông trên đất 2 vụ lúa: Cuối tháng 9 đều tháng 10.

- Duyên hải miền Trung:

+ Ngô Đông Xuân: Gieo tháng 12 thu hoạch cuối tháng 3 đầu tháng 4.

+ Ngô Hè – Thu: Gieo đầu tháng 4 thu hoạch cuối tháng 7 đầu tháng 8.

- Trồng ngô vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ:

+ Vụ 1: Gieo cuối tháng 4 đầu tháng 5, khi đã có mưa.

+ Vụ 2: Gieo trong tháng 8, sau khi thu hoạch hoa màu vụ 1. Ngoài ra đất đối với Đông Nam Bộ có thể trồng thêm 1 vụ trong tháng 12 nếu có nước tưới.

- Đồng bằng Sông Cửu Long:

+ Vụ 1: Gieo trong tháng 4 đầu tháng 5.

+ Vụ 2: Gieo trong tháng 8.

Ngoài ra gần đây thêm 1 vụ nữa vào tháng 12, tháng 1 sau khi thu hoạch lúa mùa.

1.2. Hạt giống và sự nảy mầm mọc

- Hạt giống:

+ Hạt giống là tiền đề của một ruộng ngô tốt, muốn ruộng ngô mọc đều và phát triển tốt ngay từ giai đoạn đầu phụ thuộc lớn vào chất lượng hạt giống lúc đem gieo. Cần chọn những hạt giống tốt năng suất, chất lượng cao, có thời gian sinh trưởng phù hợp với mùa vụ tại địa phương.

+ Giống phải có bao bì, nhãn mác ghi rõ cơ sở sản xuất và hướng dẫn sử dụng tỉ lệ nảy mầm trên 90%.

+ Việc cải tiến giống ngô thuần và tạo ra những giống ngô lai đã góp một phần rất lớn trong việc tăng năng suất và sản lượng ngô.

- Sự nảy mầm:

+ Hạt giống hút đủ nước, oxy và nhiệt độ thích hợp từ 13ºc trở lên thì hạt giống nứt ra và bắt đầu nảy mầm, nhiệt độ thấp hơn 13ºC hạt giống không nảy mầm hoặc thời gian nảy nầm kéo dài.

+ Giai đoạn nảy mầm ngô tạo ra rễ mầm, thân mầm và lá mầm rất nhanh do các bộ phận có sẵn trong phôi hạt.

+ Tiếp sau giai đoạn này mầm ngô ra các lá thật thứ 1,2,3 các lá sẽ quang hợp và tạo ra sản phẩm mới nuôi cây ngô.

Lưu ý:

- Nên có kế hoạch mua giống sớm, chọn giống ngô phù hợp với ruộng đất và mức đầu tư thâm canh của gia đình.

- Mua đúng giống và có ghi nhãn hiệu của nhà sản xuất hướng dẫn sử dụng trên bao bì, giống chưa hết thời gian sử dụng. Thử tỷ lệ nảy mầm trước khi gieo, không gieo ngô khi nhiệt độ thấp hơn 12ºC.

1.3. Lượng hạt giống và mật độ trồng:

- Căn cứ vào điều kiện đất trồng:

Ngô lai là loại giống yêu cầu điều kiện thâm canh cao, vì vậy khi trồng ngô phải căn cứ vào điều kiện đất đai cũng như khả năng đầu tư phân bón để chọn giống cho phù hợp.

+ Nếu đất tốt: có khả năng tưới nước, lượng phân bón đầy đủ nên chọn giống ngô có năng suất cao, tiềm năng năng suất hạt khô có thể đạt 9 – 10 tấn/ha.

+ Đất xấu, không có khả năng tưới, lượng phân bón đầy đủ, nên chọn những giống ngô năng suất trung bình, tiềm năng năng suất hạt khô có thể đạt 7 – 9 tấn/ha.

+ Đất đồi, đất nương rẫy nghèo dinh dưỡng, lượng phân bón đầy đủ, nên chọn giống có khả năng chịu hạn, chịu được đất nghèo dinh dưỡng, lượng phân bón đầy đủ, nên chọn những giống có khả năng chịu hạn, chịu được đất nghèo dinh dưỡng, tiềm năng năng suất hạt khô có thể đạt 5 – 7 tấn/ha.

- Căn cứ vào khả năng đầu tư thâm canh của nông hộ

+ Cây ngô lai yêu cầu trình độ thâm canh cao, mức độ đầu tư phân bón cho ngô lớn, bón phân đầy đủ và đúng lúc thì cây ngô lai mới phát huy được tiềm năng năng suất dễ đạt năng suất cao.

Vì vậy không nên chọn những giống ngô ưa thâm canh, năng suất cao vì trồng trên đất nghèo dinh dưỡng và phân bón không đầy đủ dễ bị mất mùa khi bị thiếu dinh dưỡng và gặp thời tiết khô hạn.

- Lượng hạt giống ngô hiện nay bán trên thị trường có độ lớn hạt khác nhau nên lượng giống gieo cũng khác nhau. Định mức hạt gieo trên 1 ha khoảng 18 – 20kg/ha (1,8 – 2 kg/1000m2), tuỳ từng giống mà nhà sản suất ghi trên bao bì.

- Mật độ trồng: tùy vào loại giống và điều kiện thâm canh có thể gieo với mật độ như sau:

mật độ và khoảng cách trồng ngô

2. Kỹ thuật làm đất cho ngô

Ngô là loại cây trồng có khả năng sinh trưởng phát triển và tạo lượng vật chất lớn trong suốt thời gian sống vì vậy làm đất trồng ngô có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thâm canh ngô.

 2.1. Chọn đất

- Đất trồng ngô cần thoát nước tốt không bị úng khi mưa to.

- Đất có tầng canh tác đầy, tơi xốp và giàu chất dinh dưỡng.

- Đất nghèo chất dinh dưỡng cần đầu tư phân bón cải tạo đất.

2.2. Cày đất

- Cày sâu phá vỡ tầng đế cày, hình thành do nhiều năm cày nông, làm thay đổi kết cấu tầng canh tác, giảm độ chặt của đất, tăng khả năng thông thoáng đất. Vì vậy đã tăng khả năng giữ nước và hạn chế rửa trôi.

- Cày sâu còn làm giảm mật độ các loại sâu bệnh, cỏ dại vì chúng bị chết do vùi sâu xuống dưới đất hoặc bi phơi trên mặt đất.

- Những loại đất đồi, đất nương rẫy, đất nghèo dinh dưỡng, việc cày sâu đã làm tăng năng suất ngô 15 – 20%.

- Kỹ thuật cày sâu thường làm đều đặn ngay sau khi thu hoạch cây trồng vụ trước.

2.3. Bừa đất trồng ngô

- Đất được cày sâu, bừa nhiều lần cho đất nhỏ có tác dụng diệt sâu bệnh và cỏ dại, cho đất tơi xốp, giúp cho đất giữ ẩm tốt, thoáng khí cây trồng sinh trưởng tốt ngay từ khi gieo hạt.

2.4. Cày rạch hàng

- Khoảng cách trồng ngô là khoảng cách cụ thể giữa các hàng ngô và các cây ngô. Hiện nay các nhà kỹ thuật đã đi đến thống nhất khoảng cách tốt nhất giữa các hàng ngô là 70cm. Cây cách cây 20 – 25 – 30cm, trồng 1 cây/hốc. Có thể trồng hàng đơn hoặc lên luống rộng 70cm trồng hàng kép như trồng rau thuận lợi cho việc chăm sóc và tưới nước.

- Trong điều kiện đất dốc ngô không trồng theo hàng được các nông hộ có thể gieo ngô theo hóc, khi bổ hốc tạo các hàng cách nhau 70 cm, điều chỉnh khoảng cách hai hốc cách nhau 25 – 30 cm, để cây sử dụng ánh sáng tốt.

2.5. Kỹ thuật gieo hạt

- Cày rạch hàng cách nhau 70 cm, sâu 15 – 20cm.

- Bón phân lót cho ngô: Rắc phân chuồng và phân dùng bón lót cho ngô xuống rảnh hoặc hố, dùng đất bột lấp lên phân.

- Cách đặt hạt: Hạt được đặt theo khoảng cách quy định (20 – 25- 30cm) tùy từng giống, tra 1 hạt/hốc.

- Lấp đất vùi hạt: Gieo hạt đến đâu lấp đất đến đó, đất dùng lấp hạt, nên dùng đất nhỏ, đất bột, đất ẩm để giúp hạt nhanh hút nước dễ nảy mầm, độ sâu lấp hạt từ 4 – 5cm.

2.6. Quy trình bón phân cho cây ngô hiệu quả

Để quá trình thâm canh ngô đạt hiệu quả cao. Ngoài biện pháp canh tác thích hợp thì việc lựa chọn sản phẩm phân bón phù hợp cũng như cách sử dụng (liệu lượng, cách bón, thời điểm bón) hiệu quả cũng vô cũng quan trọng. Phân bón Sông Mã xin giới thiệu cho bà còn nông dân bộ sản phẩm “Phân bón chuyên dùng cho ngô” bao gồm 2 sản phẩm (Sông mã cây ngô chuyên lót, Sông mã cây ngô chuyên thúc) cung cấp đầy đủ và cân đối dinh dưỡng cho từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển cho ngô từ giai đoạn bón lót, đến khi thu hoạch. Khi sử dụng bộ sản phẩm “phân bón chuyên dùng cho ngô” bà con không cần bổ sung bất kỳ sản phẩm phân bón nào khác.

phân bón chuyên dùng cho ngô

Hình ảnh : Bộ sản phẩm phân bón chuyên dùng cho ngô

Để nắm rõ hơn về quy trình kỹ thuật bón phân, lượng bón và cách xác định thời điểm bón phân cho ngô hiệu quả bạn đọc có thể tham khảo bài viết: Quy trình bón phân cho cây ngô đạt hiệu quả cao.

2.7. Kỹ thuật chăm sóc ngô

Sau khi gieo ngô xong cần phải thường xuyên kiểm tra ruộng ngô để phát hiện sâu bệnh hại, chuột, chim phá hoại, tỷ lệ cây chết để dặm,...

* Kỹ thuật dặm ngô

Dặm ngo là một việc làm bắt buộc trong kỹ thuật chăm sóc ngô, trong thực tế sản xuất ít ruộng ngô sau khi gieo tỷ lệ nảy mầm đạt 100% vì vậy phải tiến hành trồng dặm.

- Cách dặm:

+ Dặm bằng hạt ngô: Sau khi gieo 5 – 7 ngày, kiểm tra ruộng, dùng hạt gieo thay vào vị trí các hạt không mọc.

+ Dặm bằng hạt đã ngâm ủ: Sau khi gieo 3 – 4 ngày, ngâm ủ hạt, khi hạt nứt nanh, rễ vừa nhú mang ra ruộng dặm vào các vị trí không mọc.

+ Dặm bằng bầu: Sau khi gieo hạt xong, có thể làm ngô bầu tại một góc ruộng. Cách dặm này có hiệu quả cao do không có chênh lệch về thới gian giữa ngô gieo đại trà và ngô dặm.

Chú ý: Không đánh cây con từ chỗ dầy ra trồng tại các vị trí cần dặm, vì khi nhổ hoặc đánh đi trông rễ ngô bị tổn thương tỷ lệ mọc thấp và cây bị còi cọc.

* Kỹ thuật tỉa ngô:

Hiện nay, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới gieo đúng khoảng cách và gieo 1 hạt/hốc thì không cần tỉa. Nhưng nếu ruộng ngô quá dày 2 – 3 hạt/hốc cần tỉa ngô lúc ngô có 3 – 4 lá. Loại bỏ các cây ngô nhỏ, yếu chỉ giữ lại một cây trên 1 hốc, nếu để lại 2 – 3 cây trên cùng một hốc, cây sẽ cạnh tranh dinh dưỡng cũng như ánh sáng với nhau sau này bắp nhỏ tốn nhiều công và vật tư chăm sóc nhưng năng suất không cao.

* Kỹ thuật làm cỏ vun gốc

- Cỏ dại tranh chấp dinh dưỡng, ánh sáng với ngô, làm mất sự thông thoáng trong ruộng ngô, là nơi trú ngụ của sâu bệnh, cần làm sạch cỏ, để cỏ dại không cạnh tranh dinh dưỡng với cây ngô non và hạn chế sâu bệnh hại ngô.

- Vun gốc, thường kết hợp với các lần bón phân nó có tác dụng giữ phân bón không bị khô hoặc trôi theo nước khi trời mưa to, làm cho ngô sử dụng phân bón tốt hơn, tạo điều kiện để bộ rễ phát triển tốt, tăng khả năng hút chất dinh dưỡng và giúp cây ngô chống đổ.

* Kỹ thuật tưới nước cho cây ngô

- Ngô là cây trồng cạn, nhưng cũng rất cần nước trong quá trình sống của cây, đặc biệt là các giống ngô lai chỉ phát huy được năng suất cao trong điều kiện đất cung cấp đủ nước cho ngô sinh trưởng phát triển suốt cả quá trình sống.

- Thời kỳ gieo hạt ngô cần độ ẩm đất nảy nầm và thời kỳ trước trỗ cờ 15 ngày đến lúc ngô chín sữa là thời kỳ cần nước nhất của cây ngô.

- Nếu điều kiện cung cấp nước thuận lợi, căn cứ vào độ ẩm của đất trong ruộng ngô, khi độ ẩm đất nhỏ hơn 60% thì cần tưới bổ sung cho ngô, các lần tưới cách nhau 15 – 20 ngày tùy theo điều kiện thời tiết.

- Cách tưới, tháo nước đều vào các rãnh cho nước thấm dần vào đất. Khi nước thấm đều trong ruộng ngô thì ngăn nước lại và giữ nước trong rãnh để nước ngấm sâu trong đất.

- Ngoài cách tưới trên tùy từng nơi có thể áp dụng cách tưới khác nhau như dùng ống dẫn nước vào ruộng để nước tự chảy, tưới phun mưa,...

3. Biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại ngô

Bạn đọc có thể tham khảo 1 số bài viết sau:

+ Biện pháp phòng trừ bệnh gỉ sắt ngô hiệu quả

+ Biện pháp phòng trừ bệnh ung thư ngô

+ Biện pháp phòng trừ bệnh đốm lá trên cây ngô

NVKHNN- Trịnh Thị Khương

Bình luận