Giới thiệu một số loại phân đạm phổ biến hiện nay

Cây trồng hấp thu dinh dưỡng đạm ở 2 dạng: NH4+ và NO3-.

1. Nhóm phân đạm amoni

- Đặc điểm chung của nhóm phân đạm amoni:

+ Là loại phân trong thành phần có chứa N (đạm) ở dạng amoni (NH4+) hay được chuyển hoá thành (NH4+) giúp cây trồng có thể hấp thu và sử dụng dễ dàng.

+ Sau khi bón phân đạm amoni vào đất, do bản chất của keo đất mang điện tích (-), mà các loại phân amoni lại cung cấp dinh dưỡng đạm dưới dạng (NH4+) mang điện tích dương (+) nên dễ dàng được keo đất hấp phụ, ít bị rửa trôi phân khi được bón nhiều vào đất. Hạn chế việc mất dinh dưỡng. 

Lưu ý: Sau khi bón vào đất các phân amoni có thể bị Nitrat hoá (ở nhiệt độ, pH và ẩm độ thích hợp) kết quả làm chua đất, vừa tạo khả năng cung cấp đạm cho cây nhưng đồng thời làm mất đạm dưới dạng NO3-.

1.1. Amoniac khan

- CTHH: NH­3

- Thành phần: 82% N (là loại phân đạm có tỷ lệ đạm cao nhất).

- Tính chất:

Dạng chất lỏng linh động, không màu, sôi ở 34ºC, nhanh chuyển sang thể hơi và tăng thể tích nên phải được bảo quản và vận chuyển trong các bình thép đặc biệt để tránh cháy, nổ gây nguy hiểm, giá thành rất rẻ (bằng 40% của phân Amoni Nitrat).

- Đặc điểm sử dụng:

+ Cần có máy chuyên dùng để đưa trực tiếp chất lỏng vào tầng đất sâu (10 - 14cm) nhằm tránh mất đạm (vì ngoài không khí amoniac khan nhanh chóng chuyển từ thể lỏng sang thể khí) và để phân hút ẩm trong đất tạo thành NH4OH rồi phân ly thành NH4+ cung cấp đạm cho cây hoặc được keo đất hấp phụ, rồi dần cung cấp dinh dưỡng cho cây.

1.2. Nước amoniac

- CTHH: NH4OH

- Thành phần: 16,5% N (nếu là phụ phẩm của kỹ nghệ luyện cốc) - 20,5% N (nếu được tổng hợp trực tiếp).

- Tính chất của nước amoniac:

+ Phân ở dạng thể lỏng, rẻ tiến nhất, dễ bảo quản và sử dụng hơn amoniac khan, nhưng do có tác dụng ăn mòn kim loại nên cũng cần bảo quản và vận chuyển nước amoniac trong các thiết bị bằng sành sứ, nhựa.

+ Khi nước amoniac có trộn thêm NH4NO3 tạo thành một dạng phân đạm lỏng hỗn hợp có tên gọi amonicat (30 - 50%N) nên tăng hiệu quả sử dụng của phân.

+ Trong nước amoniac, đạm nằm dưới dạng NH3 tự do và NH4OH.

Trong đó NH3 có tỷ lệ cao do vậy cần chú ý trong quá trình bảo quản và vận chuyển để khỏi bay mất NH3.

- Đặc điểm sử dụng của nước amoniac:

+ Thường dùng các đường ống bằng nhựa dẫn trực tiếp nước amomiac từ nơi sản xuất đến nơi sử dụng.

+ Khi sử dụng muốn hiệu quả, phải bón sâu vào đất để tránh mất đạm. Phân cũng được keo đất giữ dưới dạng NH4+ ngoài ra cũng có thể tham gia các quá trình chuyển hoá như các dạng phân amoni khác trong đất.

1.3. Amoni sunfat

phân đạm amoni sunfat

Hình ảnh: Phân amoni sunfat (phân SA)

Phân đạm Amoni Sunfat còn được gọi tắt là phân SA. Hay còn được gọi là phân đạm “một lá” do trong thành phần chỉ chứa một dạng đạm (NH4+) cây trồng hấp thu và sử dụng dễ dàng. 

- CTHH: (NH4)2SO4

- Thành phần: 20,8 - 21,0% N; 23 - 24% S, <0,2% axit H2SO4 tự do. Phân thành phẩm thường có độ ẩm 0,2 – 0,3%.

- Tính chất của phân đạm amoni sunfat (phân đạm SA): 

+ Phân đạm SA có dạng tinh thể màu trắng, xám trắng hoặc có màu xám xanh lục, ít hút ẩm, ít đóng tảng trong bảo quản, dễ dàng bón phân bằng máy.

+ Nếu bảo quản phân lâu ở điều kiện nhiệt độ, ẩm độ cao ( >= 30ºC) phân đạm SA dễ bị mất đạm ở dạng NH3. Kết quả vừa bị mất N (tạo mùi khai nơi lưu giữ) vừa làm tăng độ chua tự do của phân.

phân đạm SA

+ Phân đạm SA có thể bị mất đạm một phần ở thể khí do sau khi phân ly thành NH4+ có thể chuyển thành NH4OH, rồi chuyển tiếp thành NH3.

phân đạm SA

+ Phân đạm SA vừa gây chua hoá học do trong thành phần của phân có chứa axit H2SO4 tự do, vừa gây chua sinh lý do trong thành phân có chứa gốc axit.

Vì vậy: Liên tục bón phân Amoni sunfat (phân đạm SA) trong trồng trọt làm mất vôi, giảm tính đệm và hoá chua đất.

+ Phân đạm SA còn có thể tham gia vào quá trình Nitrat hoá:

phân đạm SA

Kết quả làm chua đất, vừa tạo khả năng cung cấp đạm cho cây nhưng đồng thời làm mất đạm dưới dạng NO3-.

+ Bón phân đạm SA trên đất chua còn có khả năng tạo ra các muối sắt, muối nhôm hoà tan. Làm tăng khả năng ảnh hưởng xấu của độ chua đến cây.

- Đặc điểm sử dụng phâm đạm sunfat (phân đạm SA):

+ Phân đạm SA có thể sử dụng cho nhiều loại cây trồng khác nhau, nhưng đặc biệt thích hợp đối với các loại cây ưa chua hay có nhu cầu về lưu huỳnh cao như cây họ thập tự (rau cải, cải bắp, su hào…) các cây lấy củ (khoai lang, khoai tây) và các cây lấy dầu hoặc có chứa tinh dầu như (cây đậu tương, lạc, cà phê, chè,…).

+ Phân đạm SA sử dụng thích hợp trên các loại đất kiềm, đất nghèo lưu huỳnh (đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất sử dụng lâu đời) do phân có tác dụng làm giảm tính kiềm và bổ sung lưu huỳnh cho đất.

+ Bón liên tục phân đạm SA, nhất là trên đất chua rất cần bón vôi để trung hoà độ chua do phân gây ra, cần có kế hoạch bón vôi theo tỷ lệ 1,3 bột đá vôi : 1 phân đạm SA.

+ Phối hợp sử dụng phân đạm SA cùng với phân chuồng, phân lân tự nhiên có tác dụng trực tiếp cung cấp N (đạm) cho cây, đồng thời lại có tác dụng gián tiếp cung cấp lân dễ tiêu rất tốt cho cây trồng.

+ Không nên bón tập chung phân với số lượng lớn mà cần chia ra bón làm nhiều lần, cần chú ý rải phân cho đều khi sử dụng.

+ Để tránh tác dụng xấu mà phân có thể gây ra, không nên sử dụng phân đạm SA trên đất trũng, lầy thụt, đất phèn, đất mặn vì trong điều kiện yếm khí, giàu chất hữu cơ, S có trong thành phần của phân dễ bị khử thành H2S có thể gây độc cho cây.

+ Hạn chế sử dụng phân đạm SA trên đất mặn sẽ làm tăng nồng độ SO42- trong đất, tăng độ mặn của đất.

+ Khi bón phân cần lưu ý bón phân cho đều vì: Phân đạm SA có khả năng hoà tan nhanh trong nước, nên sau khi được bón vào đất, phân nhanh chóng cung cấp đạm cho cây trồng, một phần NH4+ được hấp phụ khá chặt trên bề mặt keo đất ở ngay vị trí bón.

- Phân được nhập khẩu từ Trung Quốc.

1.4. Phân đạm Amoni clorua

phân amoni clorua

Hình ảnh: Phân đạm Amoni Clorua

- Công thức hoá học: NH4Cl

- Thành phần: 24 – 25% N; 66,6% Cl

- Tính chất của phân đạm Amoni Clorua: 

+ Phân có dạng tinh thể màu trắng, dễ hút ẩm, chẩy nước, dễ hoà tan trong nước, là phân chua sinh lý.

+ Khi bón vào đất phân amoni clorua cũng tan nhanh, được hấp phụ trên keo đất dưới dạng NH4+.

+ Bón liên tục phân đạm amoni clorua cũng làm đất mất vôi dần, giảm tính đệm và làm đất hoá chua.

+ NH4Cl có thể đạm mất một phần ở thể khí.

+ NH4Cl cũng có thể tham gia vào quá trình nitrat hoá.

phân đạm amoni clorua

Kết quả vừa làm chua đất, vừa tạo khả năng cung cấp đạm dưới dạng NH4cho cây đồng thời mất đạm dưới dạng NO3-.

So với đạm amoni sunfat,  phân đạm amoni clorua có những hạn chế sau: 

- Tốc độ Nitrat hoá chậm hơn phân đạm sufat (phân đạm SA).

- Khi bón liên tục đạm amoni clorua, rất dễ gây thiếu lưu huỳnh. Ảnh hưởng không tốt đối với những cây trồng có nhu cầu lưu huỳnh cao.

- Do trong thành phần của đạm amoni Clorua có chứa ion Clo. Là nguyên tố ảnh hưởng xấu tới chất lượng nông sản của nhiều loại cây trồng, đặc biệt như: thuốc lá, nho, cam quýt và độc đối với vi sinh vật. Vì vậy trước khi sử dụng chúng ta phải cân nhắc, xem đối tương cây trồng đó có thích hợp với loại phân bón có chứa ion clo hay không. Có như vậy quá trình canh tác mới thuận lợi và đạt hiệu quả cao. 

Tuy nhiên, ion Clo mamg điện tích (-) khi bón vào đất không bị keo đất giữ, nên có thể bị nước mưa rửa trôi, do vậy nếu bón phân amoni Clorua sớm thì các tác hại của ion Clo cũng giảm đáng kể. 

- Đặc điểm sử dụng của phân Amoni Clorua:

+ Đây là loại phân rẻ tiền, có hiệu lực với nhiều loại cây trồng (mía, ngô, cây lấy sợi, cọ dầu, dừa) đặc biệt nhất là đối với cây lúa.

+ Sử dụng trong thời gian dài cần phải trung hòa độ chua với tỷ lệ 1 NH4Cl : 1,4 CaCO3 hay bón kết hợp với phân chuồng và các loại phân lân thiên nhiên khác.

+ Do phân chứa ion Cl- nên không bón phân cho những cây mẫn cảm với Cl-, nếu bón phải bón lót sớm.

- Phân được nhập khẩu từ Trung Quốc. 

2. Phân đạm Nitrat

- Đặc điểm chung của nhóm phân đạm Nitrat:

+ Hoà tan mạnh trong nước, chứa N ở dạng NO3-, mang điện tích âm nên không được keo đất giữ, cây hút dinh dưỡng dễ dàng, nhưng dễ bị rửa trôi và tham gia vào quá trình phản đạm hoá dẫn đến mất đạm cả ở thể khí. Thích hợp cho cây trồng trong điều kiện khó khăn, phân phát huy hiệu lực cao ở khu vực cạn, đất trồng màu. Các sản phẩm thuộc nhóm phân đạm Nitrat đều là các phân kiềm sinh lý,...

2.1. Canxi nitrat

- Công thức hoá học: Ca(NO3)2

- Thành phần: 13,0 – 15,5 % N; 25 - 36% CaO. Phổ biến nhất là loại phân chứa 15 – 15,5% N và 25% CaO.

- Tính chất của phân Canxi Nitrat:

+ Phân có dạng tinh thể hình viên tròn, màu trắng đục, hoà tan nhanh trong nước chứa đạm ở dạng NO3-.

+ Phân có tính kiềm sinh lý, dễ hút ẩm chảy nước, đóng thành tảng khó bảo quản. Đây là hạn chế khả năng sử dụng phân này trong điều kiện nhiệt đới ẩm của Việt Nam.

+ NO3- không bị đất hấp phụ nên dễ được cây hút, ngay cả trong điều kiện không thuận lợi cho việc hút dinh dưỡng của cây (khô hạn, lạnh, đất chua, mặn...) nhưng cũng dễ bị rửa trôi.

+ Không bị mất đạm ở thể khí như phân đạm amôn, nhưng NO3- nếu không được cây trồng sử dụng hết, lại dễ bị rửa trôi hoặc tham gia vào quá trình phản Nitrat hoá.

- Đặc điểm sử dụng phân Canxi  Nitart:

+ Phân Caxi nitrat rất thích hợp với các cây trồng cạn đặc biệt cho các cây gặp điều kiện khó khăn (khô hạn, đất mặn, chua, cây trồng vụ đông, cây trồng trên đất có thành phần cơ giới nặng...).

+ Phân cũng rất thích hợp để bón lót trên đất chua, đất mặn, đất phèn do tác động làm giảm độ chua của đất.

+ Thích hợp để phun lên lá cho cây trồng.

+ Dạng phân đạm này được sử dụng nhiều trong trồng cây không dùng đất (trồng cây trong dung dịch, trong cát, trên giá thể) để vừa cung cấp đạm, vừa cung cấp Ca cho cây.

+ Sử dụng cho lúa có hiệu quả không cao do NO3- dễ bị rửa trôi, nhưng dùng lượng vừa phải để bón thúc ở thời kỳ làm đòng đến trổ bông cho lúa trên đất chua phèn lại có hiệu quả cao.

2.2. Nitrat natri

- Công thức hoá học: NaNO3

- Thành phần : 15 - 16% N, 25 – 26 % Na và một số yếu tố vi lượng

- Tính chất: Dễ hoà tan trong nước, dễ hút ẩm, chảy nước, có tính kiềm. Do có nhiều Na nên dễ làm keo đất phân tán, đất chai lại, không tơi xốp.

- Đặc điểm sử dụng: Thích hợp cho cây có nhu cầu Na cao (củ cải đường), cây lấy rễ và thích hợp bón cho đất chua.

3. Phân đạm Amoni Nitrat (đạm hai lá)

Là phân vừa có tính chất của phân Amoni lại vừa có tính chất của phân Nitrat.

- CTHH: NH4NO3

- Thành phần: amôn nitrat nguyên chất chứa 35% N. Do Amôn Nitrat dễ hút nước và chảy rữa, nên các nhà sản xuất thường đưa thêm chất bổ trợ dễ bảo quản. Chất bổ trợ có thể là CaCO3, Sét, hoặc Kisengua. Do vậy, có nhiều loại phân đạm Amoni Nitrat.

+ Phân amoni nitrat tỷ lệ đạm thấp 22%N.

+ Phân amoni nitrat tỷ lệ đạm trung bình 26 – 27,5%N.

+ Phân amoni nitrat tỷ lệ đạm cao 33 – 34,5%N.

- Tính chất đạm Amoni Nitrat:

+ Phân có dạng tinh thể thô, màu trắng.

+ Là phân chua sinh lý yếu do cây hút NH4mạnh hơn để lại NO3-, tạo khả năng gây chua đất nhưng tác dụng gây chua không cao.

+ Trong thành phần của phân không chứa ion thừa.

+ Phân khó bảo quản do hút ẩm mạnh, chảy rữa.

- Đặc điểm sử dụng phân Amoni Nitrat:

+ Phân có thể bón cho nhiều loại cây trồng khác nhau, thích hợp với cây trồng cạn, vụ đông, hiệu quả kém với lúa nước (vì NO3- linh động, dễ bị rửa trôi và bị khử thành N2).

+ Là phân không phổ biến ở Việt Nam.

4. Phân đạm amit

Đây là nhóm phân đạm chứa đạm ở dạng amit - NH2 hay được chuyển hoá thành NH2. Phân đạm amit thường được xếp vào phân amoni, vì sau khi bón vào đất các loại phân đạm amit đều được chuyển thành amoni cacbonat, rồi mới chuyển hoá tiếp và cung cấp đạm cho cây.

4.1. Phân Urê

phân đạm urê

Phân đạm Urê hay Cacbomit là dạng phân đạm tiêu biểu của nhóm phân đạm amit và là dạng phân đạm phổ biến nhất trong thực tế sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

- CTHH: CO(NH2)2

- Thành phần: Chứa 46% N và không quá 2% biurê (nếu > 2% sẽ gây độc cho hầu hết các loại cây trồng, giảm hiệu quả của phân).

- Tính chất của phân đạm urê: 

+ Phân urê có dạng tinh thể, viên tròn như trứng cá, kích thước hạt 1 – 3mm, màu trắng đục hay trắng ngà, không mùi, hoà tan nhanh trong nước, rất linh động.

+ Phân urê có thể coi là có phản ứng trung tính sinh lý, do sau khi bón vào đất urê chuyển hoá thành cacbonat amoni tuy tạm thời làm cho đất kiềm nhờ phản ứng sau đây:

(NH4)2CO3 + H2O-------NH4HCO3 + NH4OH

Ion NH4được tạo thành có thể được cây, vi sinh vật sử dụng, hoặc keo đất hấp phụ, ngoài ra có thể bị nitrat hoá thành HNO3 mà tạm thời làm cho đất chua. Nhưng sau 1 thời gian cây hút đạm ở hai dạng NH4+ và NO3-, gốc axit và gốc kiềm đều biến mất, nên độ pH trong đất thay đổi không đáng kể.

+ Ở nhiệt độ >20ºC phân hút ẩm chảy nước, trở nên nhớt và lạnh, có thể vón cục và đóng tảng gây ảnh hưởng xấu đến trạng thái vật lý và sử dụng của phân.

+ Phân urê còn được gọi là phân amoni hiệu quả chậm, do sự chuyển hoá của urê trong đất thành amôn cần thiết cho việc cung cấp dinh dưỡng thuận lợi cho cây lại tuỳ thuộc nhiệt độ, ẩm độ, chất hữu cơ, pH đất, vi sinh vật… Trong đó quan trọng nhất là nhiệt độ. 

+ Phân urê có thể bị mất NH3 khi bón vãi phân trực tiếp trên mặt đất (không vùi phân vào đất sau khi bón) do phân sau khi được chuyển hoá thành cacbonat amoni, chất này không bền vững, dễ bị phân huỷ thành amoniac và bicacbonat amoni mà dẫn đến mất đạm dưới dạng NH3. Quá trình này xẩy ra mạnh trong môi trường từ trung tính đến kiềm.

+ Phân urê còn có thể bị mất đạm trong điều kiện nhiệt độ cao vì sau khi đã chuyển thành cacbonat amoni, chất này có thể hợp với nước và COchuyển thành bicacbonat amoni.

(NH4)2CO3 + H2O + CO2 ---- NH4OH + NH4HCO3

Bicacbonat amoni được tạo thành trong các phản ứng chuyển hoá trên dễ bị phân huỷ trong điều kiện nhiệt độ cao tạo khả năng mất đạm ở dạng NH3

- Đặc điểm sử dụng phân urê: 

+ Phân sử dụng tốt cho nhiều loại cây trồng (do thành phần của phân không có ion gây hại).

+ Phân có thể sử dụng tốt trên các loại đất khác nhau đặc biệt thích hợp trên đất chua, đất bạc màu, đất rửa trôi mạnh.

+ Phân có thể sử dụng dưới nhiều hình thức: Bón lót, bón thúc, bón vào đất hoặc phun trên lá, (nên sử dụng phân có hàm lượng biurê thấp tốt nhất là < 0,25% chú ý tới nồng độ dinh dưỡng để phun).

Ví dụ: 1 – 2%: cây hoà thảo; 0.5 – 1.0%: cây ăn quả; 0.5 – 1.5%: cây rau

Nồng độ cụ thể còn tuỳ thuộc vào thời kỳ sinh trưởng của cây.

+ Urê còn có thể sử dụng cho vào khẩu phần thức ăn chăn nuôi, có nhiều ứng dụng khác trong công nghiệp.

+ Để tránh quá trình amoni hoá phân urê trên mặt đất, dẫn đến mất đạm cần bón phân sâu 10 – 14cm vào đất (bón cho cây trồng cạn cần vùi phân sâu vào đất hay dùng nước tưới hoà phân đưa phân thấm xuống sâu, bón cho lúa cần bón vào tầng khử của đất).

+ Không được bón phân trực tiếp dưới trời nắng gắt, trời mưa sẽ làm mất đạm.

+ Do hàm lượng dinh dưỡng có trong phân cao, nên trộn phân thêm với đất bột, phân chuồng mục…để tăng khối lượng cho dễ bón.

Hiện nay có các loại đạm urê phổ biến: Urea Phú Mỹ, Urea Hà Bắc, Urea Ninh Bình, Urea Cà Mau, Urea nhập khẩu (TQ, Idonesia…)

4.2. Phân Canxi xianamit

- Công thức hoá học: CaCN2 được tạo thành do phản ứng của carbua canxi CaC2 với đạm có 21 – 22%.

- Thành phần: 20 – 23% N, 20 – 54% CaO

- Tính chất phân Canxi xianamit:

Phân nguyên chất có dạng bột màu trắng. Phân lẫn tạp chất có dạng bột màu đen. Phân không tan trong nước, dễ gây bỏng và tính sát trùng cao (diệt nấm, bệnh u rễ bắp cải, sâu bọ hung, bổ củi, tuyến trùng, ký sinh trùng gia súc), có phản ứng kiềm. Bón vào đất CaCN2 thuỷ phân dần dần qua nhiều bước cuối cùng thành urê như sau:

2CaCN2 + 2H2O ------ Ca(HCN2)2 + Ca(OH)2

(đất hơi chua)

2Ca(HCN2) + 2H2O ------------(CaOH)2CN2 + 3H2CN2

(đất hơi kiềm)

6Ca(HCN2)+ 2H2O ----------- Ca(OH)+ (H2CN2)2

H2CN2 + H2O----- CO(NH2)2

- Đặc điểm sử dụng phân Canxi xianamit:

+ Bón phải trộn đều với đất và bón trước khi gieo cấy ít nhất 2 – 3 tuần. Vì các chất trung gian hình thành có thể gây độc cho vi sinh vật trong đất

+ Ngoài tác dụng làm phân bón xianamit canxi còn có tác dụng diệt trùng, diệt nấm bệnh do phân chứa 20 – 54% CaO ở dạng rất hoạt động đồng thời thích hợp để cải tạo các loại đất sét và đất đã mất nhiều vôi.

+ Có tác dụng làm rụng lá bông để có thể thu hoạch bằng máy

+ Có thể dùng làm phân bón thúc, nhưng phải ủ trước với đất.

5. Phân đạm hiệu quả chậm

- Khái niệm: Phân đạm tác dụng chậm là các dạng phân đạm có lớp màng bọc hay các chất bổ trợ để phân không tan nhanh mà được giải phóng dần cung cấp cho cây.

- Tỷ lệ dinh dưỡng trong phân này thường thấp hơn so với phân thông thường cùng loại vd: ure bọc lưu huỳnh chứa 38% N. Hiệu quả phân tăng lên nhưng giá thành phân cũng tăng cao nên chưa được sử dụng phổ biến. Các loại phân đạm tác dụng chậm đã được sử dụng ở nước ngoài:

Urefocmoldehit, ure bọc lưu huỳnh, ure viên to, oxamit…

Bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Cách sử dụng phân đạm hiệu quả 

Giáo trình phân bón - Học viện nông nghiệp Việt Nam

Bình luận